Quy trình - Sự kiện - Thành tựu

6 bước đơn giản trong quy trình thụ tinh ống nghiệm

Bạn có chỉ định làm Thụ tinh ống nghiệm (IVF), bạn rất lo lắng về “chuyện gì sắp xảy ra”. Quy trình thụ tinh ống nghiệm chỉ gồm 6 bước đơn giản. Hãy cùng tìm hiểu ngay nhé!

Bước 1: Hoàn tất hồ sơ thụ tinh ống nghiệm

  • Làm xét nghiệm kiểm tra sức khỏe sinh sản cả hai vợ chồng:
    • Vợ : khám phụ khoa, xét nghiệm máu, siêu âm, làm pap’s mear.
    • Chồng: xét nghiệm máu, xét nghiệm tinh dịch đồ.
  • Hoàn tất hồ sơ (kèm CCCD hay passport + kết hôn 2 vợ chồng).
  • Hẹn ngày 2 vòng kinh tái khám để bắt đầu kích thích buồng trứng.
Cả hai vợ chồng cần xét nghiệm kiểm tra sức khỏe sinh sản để hoàn tất hồ sơ IVF

Bước 2: Kích thích buồng trứng

  • Khách hàng đang có kinh ngày 2 được siêu âm kiểm tra + khám tiền mê.
  • Kết quả tiền mê bình thường sẽ được tiêm thuốc kích trứng.
  • Thời gian kích trứng từ 10-14 ngày khi trứng đã trưởng thành thì khách hàng được tiêm thuốc rụng trứng và hẹn ngày chọc hút trứng.
Tiêm kích trứng là một trong những bước quan trọng trong thụ tinh ống nghiệm

Bước 3: Chọc hút trứng

  • Giải thích và tư vấn cho khách hàng trước khi vào phòng thủ thuật.
  • Tiến hành gây tê + gây mê , thực hiện chọc hút trứng.
  • Qua siêu âm đầu dò bác sĩ sẽ dùng kim chọc hút lấy trứng ra từ buồng trứng của bạn.
  • Dịch nang trứng được đưa vào phòng Lab để tìm trứng.
Mô tả quá trình thực hiện chọc hút trứng

Bước 4: Thụ tinh và nuôi phôi

  • Trứng và tinh trùng tốt được chọn lựa và cho thụ tinh với nhau.
  • Quá trình thụ tinh hoàn tất sẽ thu được phôi ngày 2, 3, 5 hoặc 6.
Thực hiện thụ tinh cho trứng và tinh trùng trong ống nghiệm

Bước 5: Chuyển phôi

  • Phôi hữu dụng sẽ được chuyển phôi tươi hoặc trữ đông lại tuỳ theo sự phù hợp của nội mạc tử cung.
  • Khi chuyển phôi trữ, khách hàng sẽ chờ ra kinh kỳ tiếp theo để uống thuốc chuẩn bị niêm mạc tử cung trong khoảng 20 ngày rồi chuyển phôi trữ (phôi đông lạnh được rã đông).
  • Sau chuyển phôi hẹn khách hàng 14 ngày sau thử thai.
Mô tả quá trình thực hiện chuyển phôi

Bước 6: Làm lạnh và bảo quản phôi

  • Những phôi dư còn lại được làm lạnh và trữ lại trong thùng ni-tơ lỏng chờ chu kỳ chuyển phôi tiếp theo.
  • Kỹ thuật bảo quản lạnh đảm bảo 95% lượng phôi sử dụng được và có chất lượng như phôi tươi.
  • Với kỹ thuật trữ đông hiện nay, phôi có thể lưu trữ trong thời gian dài. Tuy nhiên, nên rã đông phôi và chuyển phôi càng sớm càng tốt. Vì tuổi người phụ nữ càng trẻ thì khả năng có thai càng cao và biến chứng thai kỳ càng giảm.
Làm lạnh và bảo quản phôi chờ chu kỳ chuyển phôi tiếp theo

Trên đây là 6 bước cụ thể trong quy trình thụ tinh ống nghiệm. Hãy giữ tinh thần thoải mái và tuân thủ theo hướng dẫn của các bác sĩ để thực hiện các bước trong quy trình này. Chúc các bạn thành công thật sớm.

Quy trình - Sự kiện - Thành tựu

Những em bé thụ tinh ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ

Ngày 30 tháng 4 năm 1998, ngày chào đón sự ra đời của ba em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đầu tiên của nước ta. Đây là một trong những thành tựu xuất sắc của nền y học Việt Nam. Ba em bé được đặt tên là Phạm Tường Lan Thy, Lưu Tuyết Trân và Mai Quốc Bảo. Mỗi cái tên mang một số phận nhưng đều tựu chung ý nghĩa vô cùng đặc biệt, như một món quà vô giá gửi tặng những người mang cho các em cuộc sống diệu kỳ này.

Ba em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đầu tiên của nước ta

Hơn 16.300 em bé thụ tinh ống nghiệm tại bệnh viện

25 năm hình thành và phát triển, khoa Hiếm Muộn tự hào đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản:

  • 1995: Thực hiện thành công bơm tinh trùng đầu tiên với tinh trùng lọc rửa.
  • 1997: Thực hiện ca TTON đầu tiên.
  • 1998: Ba em bé đầu tiên từ kỹ thuật TTON ra đời tại Việt Nam.
  • 1999: Em bé đầu tiên từ kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) tại Việt Nam.
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI)
  • 2000: Em bé đầu tiên từ Thụ tinh trong ống nghiệm xin trứng.
  • 2002:
    • Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật MESA-ICSI (MESA là kỹ thuật lấy tinh trùng từ phẫu thuật mào tinh).
    • Sanh đôi đầu tiên sau kỹ thuật giảm thai.
  • 2003:
    • Em bé đầu tiên từ phôi trữ.
    • Em bé đầu tiên từ kỹ thuật PESA-ICSI (PESA là một kỹ thuật chọc hút tinh trùng từ mào tinh).
    • Em bé thứ 1000 ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện Từ Dũ.
  • 2004:
    • Em bé đầu tiên từ kỹ thuật TESE-ICSI (TESE là một kỹ thuật phẫu thuật trích tinh trùng từ tinh hoàn).
    • Các kỹ thuật PESA, MESA, TESE giúp các bệnh nhân vô tinh (không xuất tinh được theo ngã. thông thường) có cơ hội có con từ tinh trùng của chính mình.
    • Em bé đầu tiên từ trứng trữ lạnh và tinh trùng trữ lạnh.
  • 2005: Em bé thứ 2000 ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện Từ Dũ.
  • 2007: Em bé đầu tiên từ kỹ thuật trữ phôi nhanh.
Hình lấy phôi từ nito lỏng
  • 2008:
    • Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật IVM (trưởng thành trứng non trong ống nghiệm).
    • Thực hiện kỹ thuật phôi thoát màng bằng laser (AH).
    • Kỹ thuật thoát màng phôi giúp tăng cơ hội làm tổ cho phôi trong các trường hợp khó như màng phôi dày, phụ nữ lớn tuổi.
  • 2009:
    • Thực hiện nuôi phôi ngày 5.
    • Lợi ích của việc thực hiện nuôi phôi ngày 5 là làm tăng cơ hội có được một phôi tốt, giúp gia tăng sự làm tổ của phôi, tăng tỉ lệ thành công, giảm khả năng đa thai do chọn lựa số phôi chuyển ít hơn.
  • 2010: Thiết lập quy trình PGD (chẩn đoán di truyền tiền làm tổ).
  • 2011:
    • Thực hiện kỹ thuật IMSI (kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng cải tiến).
    • Đây là kỹ thuật cải tiến của ICSI, giúp chọn lựa tinh trùng kỹ lưỡng hơn để tiêm vào bào tương trứng.
    • Em bé TTON thứ 4000.
  • 2013: Thực hiện nuôi cấy phôi ở các buồng ủ riêng biệt, đây là trang thiết bị nuôi cấy phôi hiện đại giúp ổn định sự phát triển, tăng chất lượng phôi góp phần tăng tỉ lệ có thai.
  • 2015: Tổ chức quy trình xét duyệt và thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo nghị định chính phủ. Bệnh viện Từ Dũ là trong những đơn vị đầu tiên của Việt Nam được Bộ Y Tế cấp phép thực hiện kỹ thuật này. Đây là một kỹ thuật mang tính nhân văn cao, giúp cho những phụ nữ không may không thể mang thai bằng tử cung của mình vẫn có thể thực hiện được thiên chức làm mẹ.
  • 2016: Thiết lập quy trình nghiên cứu trữ rã mô buồng trứng.
  • 2017: Đạt chứng nhận quản lý chất lượng quốc tế về hỗ trợ sinh sản. Chứng chỉ này được thẩm định hằng năm và vẫn liên tục đạt yêu cầu từ năm 2017 đến nay.
Các bằng RTAC
  • 2018:
    • PGD triển khai thực tế và ca chuyển phôi đầu tiên sau kỹ thuật PGD có thai.
    • Nguyên tắc của kỹ thuật PGT là các phôi sẽ được xét nghiệm để loại trừ khả năng có các bất thường về mặt di truyền trước khi cấy vào buồng tử cung và phát triển thành thai nhi. Với kỹ thuật này, các vợ chồng mang bệnh di truyền vẫn có thể cho ra đời các em bé khoẻ mạnh.

Tổng số em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đã chào đời đến nay từ khoa Hiếm Muộn Bệnh viện Từ Dũ là hơn 16.300 bé.

Số lượt khám hiếm muộn trung bình mỗi năm là: 55.000 – 60.000 lượt khám/năm.

Tổng số ca bơm tinh trùng vào buồng tử cung IUI trong 10 năm gần đây là hơn 22.000 ca.

Tỉ lệ thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm có thể lên đến 45,7%.

Số chu kỳ TTON trong 10 năm gần đây là hơn 23.000 chu kỳ. 

Các em bé TTON

Thụ tinh ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ

Bệnh viện Từ Dũ cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong đào tạo, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản. Từ năm 2002, bệnh viện đã bắt đầu tổ chức các khóa học về hỗ trợ sinh sản. Trải qua các năm thì ngày càng nhiều các khóa học được mở ra với mong muốn có thể đào tạo ra được một đội ngũ cán bộ y tế chuyên nghiệp trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. Để chúng ta cùng nhau chung tay thực hiện ước mơ của rất nhiều cặp vợ chồng đang mong con.

Trung bình mỗi năm sẽ có 2 lớp đào tạo về TTON, 02 lớp về IUI (bơm tinh trùng vào buồng tử cung) và 01 khóa chuyên về đào tạo chuyên gia phôi học.

Lớp học IVF

Bên cạnh đó, các Bác sĩ của khoa Hiếm Muộn Bệnh viện Từ Dũ cũng liên tục cập nhật và chia sẻ kinh nghiệm điều trị cùng các đồng nghiệp toàn thế giới, thông qua việc báo cáo và tham dự tại các hội thảo quốc tế, cũng như công bố các nghiên cứu của mình trên các chuyên sản uy tín quốc tế.

Các bác sĩ tham gia báo cáo khoa học

Với tôn chỉ lấy khách hàng làm trung tâm và không ngừng nâng cấp cải tiến trải nghiệm dịch vụ chăm sóc, điều trị. Chúng tôi có triển khai khu khám hẹn giờ với đặc trưng là tất cả dịch vụ đều tập trung xoay quanh khách hàng, giảm thiểu công sức thời gian di chuyển và chờ đợi cho khách hàng.

Khu VIP của bệnh viện

Gần đây nhất, vào năm 2023, chúng tôi đã triển khai khu Chăm sóc khách hàng TTON mới hoàn toàn, toạ lạc tại lầu 8 khu B, với hệ thống phòng tư vấn, phòng nghỉ sau thủ thuật khang trang và riêng tư nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.

Khu B của Bệnh viện Từ Dũ
Khu B của Bệnh viện Từ Dũ
Quy trình - Sự kiện - Thành tựu

Thông tin các lớp học Hiếm muộn khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ

Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ là một trong những cơ sở đào tạo lớn nhất về lĩnh vực Hiếm muộn không những cho khu vực phía Nam, mà còn cho toàn quốc. Với số lượng bệnh nhân khám Hiếm muộn lên đến hàng trăm ngàn và hàng chục ngàn chu kỳ thụ tinh ống nghiệm hàng năm cùng đội ngũ giảng viên Bác sĩ, chuyên viên Lab giàu kinh nghiệm về chuyên môn cũng như công tác giảng dạy, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí giảng dạy do Bộ Y tế yêu cầu.

Hầu hết các học viên tốt nghiệp các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh Viện Từ Dũ đều có thể làm việc độc lập trong lĩnh vực hiếm muộn tại nơi công tác và được phản hồi khá tốt.

Cho đến nay khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ đã đào tạo:

  1. Lớp IVF: tổ chức được 20 khóa học: tổng cộng có 180 học viên tốt nghiệp.
  2. Lớp chuyên viên Lab-IVF: 8 khóa, 67 học viên đã tốt nghiệp.
  3. Lớp bơm tinh trùng vào buồng tử cung: 40 khóa: 543 học viên đã tốt nghiệp.
  4. Lớp Lab nam khoa, lọc rửa tinh trùng: 40 khóa, 205 học viên đã tốt nghiệp.
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Chứng chỉ Đào tạo liên tục
Thi tốt nghiệp lớp IVF
Bế giảng lớp Lab-IVF

Đặc biệt, khoa đã tổ chức thành công đào tạo cấp chứng chỉ cho lớp đào tạo 20 ca lâm sàng IVF cho Bác sĩ, điều dưỡng, chuyên viên lab theo tiêu chí cấp phép thành lập đơn vị hiếm muộn của Bộ Y Tế; và các học viên đã có thể làm việc độc lập ngay khi đơn vị hiếm muộn của bệnh viện mới thành lập.

Dự kiến các lớp học Hiếm muộn 2024:

Tháng 4/2024Tháng 6/2024
Lâm sàng IVF
Lab-IVF
Lớp Lab-nam khoa: lọc rửa tinh trùng.
Lâm sàng kích thích buồng trứng-bơm tinh trùng vào buồng tử cung

Chi tiết xem thông tin tại: https://chidaotuyentudu.wordpress.com/

Quy trình - Sự kiện - Thành tựu

Chứng chỉ quản lý chất lượng RTAC và khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Từ Dũ

RTAC là gì?

RTAC là viết tắt của cụm từ Reproductive Technology Accreditation Committee. Đây là cơ quan chuyên môn về quản lý chất lượng, được thành lập bởi Ban lãnh đạo của Hiệp hội sinh sản Úc và chịu sự quản lý trực tiếp từ Hội. Cơ quan này chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn trong các hoạt động liên quan đến Hỗ trợ sinh sản thông qua việc kiểm sát các Quy tắc thực hành (Code of practice) được lập ra bởi cơ quan này. Các bệnh viện hoặc trung tâm Hỗ trợ sinh sản sau khi kiểm sát, sẽ được cấp chức chỉ của Úc hoặc chứng chỉ quốc tế.

Lịch sử các Quy tắc thực hành và mục đích của chúng

Bộ tiêu chuẩn ban đầu biên soạn bởi Hiệp hội sinh sản Úc có tên là “Hướng dẫn dành cho các trung tâm Hỗ trợ sinh sản tại Úc và New Zealand”, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1986. Đến năm 1987, RTAC được thành lập và bổ sung thêm các ghi chú để giải thích cho các tiêu chuẩn ban đầu do Hội soạn thảo. Bộ quy tắc này sau đó được chỉnh sửa vào các năm 1992, 1997, 2001 và 2005. Nó được viết lại hoàn toàn vào năm 2008 và được chỉnh sửa sau đó vào các năm 2010, 2014, 2017 và 2021. Một chi tiết quan trọng là phiên bản quốc tế của Bộ quy tắc này lần đầu được giới thiệu vào năm 2015 và có phiên bản thứ hai vào năm 2018.

Mục đích của Quy tắc thực hành RTAC:

  • Thúc đẩy sự cải tiến liên tục về chất lượng chăm sóc cho những bệnh nhân sử dụng dịch vụ hỗ trợ sinh sản.
  • Cung cấp bộ khung đặt ra các tiêu chí cho quy trình kiểm sát, để từ đó có thể cấp chứng nhận cho các trung tâm Hỗ trợ sinh sản.
  • Đảm bảo việc kiểm sát được thực hiện một cách độc lập, không thù địch và mang tính xây dựng.

Khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Từ Dũ đã đạt chứng nhận RTAC như thế nào?

Trên tinh thần cầu tiến và muốn cải thiện chất lượng phục vụ cho bệnh nhân, tập thể nhân viên khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ đã quyết tâm nỗ lực hết sức mình để đạt được chứng nhận RTAC. Vào năm 2018, kế hoạch được lập và khởi động bởi bác sĩ trưởng khoa Lê Thị Minh Châu; một nhóm Quản lý chất lượng của khoa bao gồm các bác sĩ, nữ hộ sinh và các chuyên viên phôi học lâm sàng có ngoại ngữ tốt được thành lập và chịu trách nhiệm soạn thảo lại bộ quy tắc phù hợp với luật pháp và điều kiện làm việc ở Việt Nam.

Trong vòng một năm tiếp theo, sau các buổi làm việc với các chuyên gia Quản lý chất lượng từ Úc cũng như trong nước, Bộ quy tắc quản lý chất lượng riêng của khoa HIếm muộn bệnh viện Từ Dũ dần hoàn thiện.

Và cuối cùng vào năm 2019, sau rất nhiều nỗ lực của khoa Hiếm muộn, cùng với sự hỗ trợ hết mình từ Ban giám đốc và các khoa phòng liên quan, tập thể khoa đã hoàn thành xuất sắc buổi thẩm định của một tổ chức kiểm toán quốc tế.

“Quả ngọt nhất là quả được hái từ cây nỗ lực”, khoa Hiếm muộn đã chính thức được nhận chứng nhận Quản lý chất lượng RTAC vào tháng 10 năm 2019, tự hào là Trung tâm hỗ trợ sinh sản đạt chuẩn quốc tế.

Và kể từ đó cho đến nay, “đến hẹn lại lên”, mỗi năm khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ đều trải qua một đợt thẩm định quốc tế để tiếp tục giữ vững chất lượng trong từng hoạt động hỗ trợ sinh sản, với mong muốn mang lại những gì tốt đẹp nhất cho người bệnh.

Tập thể nhân viên khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ
Tập thể nhân viên khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ