Để tăng tỉ lệ chuyển phôi thành công, ba mẹ cần chuẩn bị sẵn sàng về sức khỏe và tâm lý. Một trong số đó là việc duy trì thói quen tập thể dục và vận động. Sau đây là một trường hợp mẹ may mắn đón con yêu nhờ việc kiên trì vận động mà Bác sĩ muốn chia sẻ đến với mọi người.
Có một chú bé kia rất thông minh và hiếu động. Ngày nào chú cũng làm mẹ mệt bở hơi tay vì phải chạy theo chú.
Chú bé hiếu động và hoạt bát
Chú bé hiếu động và hoạt bát
Con này, chắc bé con không biết đâu, lý do con thích vận động vậy là cũng từ mẹ con ấy thôi. Con đâu biết mẹ con đã kiên trì ròng rã mất hơn 10 năm để tìm thấy con. Tất cả cảm giác đau đớn ít hay đau nhiều mẹ con đều đã trải qua. Đau khi chích thuốc, đau khi chụp X-quang tử cung vòi trứng và đau khi chọc hút trứng. Nhưng có lẽ, không có cái đau nào nặng nề hơn, dễ nản lòng hơn cảm giác đau của những lần bơm tinh trùng thất bại, những lần chuyển phôi chưa thành công. Và lần đó là cái phôi cuối cùng mẹ con còn…
Mẹ đến gặp Bác sĩ với tâm lý khá nặng nề để chuẩn bị đặt phôi lần sau cùng. Nhưng trái với suy nghĩ của mẹ, Bác sĩ lại tư vấn mẹ ĐỪNG vội chuyển phôi ngay, hãy tạm ngưng 2 tháng để giảm cân và tập thể dục.
Con là trái ngọt sau những nỗ lực giảm cân của mẹ
Con là trái ngọt sau những nỗ lực giảm cân của mẹ
Con là trái ngọt sau những nỗ lực giảm cân của mẹ
Mẹ đã chọn tin theo Bác sĩ và mẹ con đã làm rất tốt. Mẹ bắt đầu ngay việc chạy bộ đều đặn mỗi sáng. Thêm vào đó, mỗi chiều đi làm về thì mẹ còn đi đánh cầu lông. Sau 2 tháng, mẹ đã thực sự giảm cân hoàn toàn không dùng một viên thuốc nào, mà chỉ bằng cách vận động thể thao và điều chỉnh chế độ ăn. Mẹ đến tái khám và Bác sĩ cũng nhận thấy mẹ con rất khác và đã sẵn sàng cho lần chuyển phôi cuối cùng. Thế là kết quả chuyển phôi rất thành công, và 9 tháng sau, con – chú bé cầu lông – đã xuất hiện. Chúc mừng con, chúc mừng mẹ con.
Sau nhiều ngày bận rộn với quá trình điều trị thụ tinh ống nghiệm, các cặp vợ chồng sẽ bước vào giai đoạn chờ đợi kết quả sau chuyển phôi, kéo dài trong khoảng hai tuần. Đối với nhiều cặp vợ chồng, đây có thể là thời điểm căng thẳng nhất. Vì sau khoảng thời gian tất bật với việc lên xuống bệnh viện tiêm thuốc và theo dõi. Giờ đây tất cả những gì họ có thể làm là chờ đợi, cảm giác hai tuần kéo dài như vô tận. Do đó, những hiểu biết về giai đoạn này có thể giúp cho tình hình trở nên nhẹ nhàng hơn.
Tại sao phải đợi chờ đến tận hai tuần?
Sau chuyển phôi, cơ thể cần thời gian khoảng hai tuần cho sự biến mất hoàn toàn của thuốc tiêm rụng trứng và sự xuất hiện của nội tiết thai kỳ ở mức độ đủ để phát hiện bằng xét nghiệm. Do đó, nếu bạn tự thử thai sớm trong giai đoạn này, kết quả có thể sẽ không chính xác và làm bạn thêm nản lòng.
Không nên thử thai quá sớm trong giai đoạn sau khi vừa chuyển phôi
Hiểu về cơ thể và tâm lý trong hai tuần chờ đợi
Trong quá trình điều trị thụ tinh ống nghiệm, bạn sẽ sử dụng nhiều loại thuốc để giúp cho trứng phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho phôi “làm nhà” trong tử cung. Tuy nhiên, tác dụng phụ của các loại thuốc này như buồn nôn, căng tức ngực, ra huyết ít, đầy bụng, lại khá giống với triệu chứng của việc mang thai. Cộng thêm nỗi niềm mong con, bạn sẽ có xu hướng nhạy cảm quá mức với các triệu chứng này và luôn tự hỏi “liệu mình đang có thai hay chỉ là do thuốc mà thôi?”. Vậy làm thế nào để sống chung với tình trạng này? Sau đây là hai việc làm không phù hợp mà đa số mọi người hay mắc phải.
Hai việc cần tránh sau chuyển phôi
1. Ám ảnh với triệu chứng của thai kỳ
Bây giờ thì bạn đã biết về những triệu chứng tương tự thai kỳ do thuốc gây ra. Do đó, hãy cố gắng đừng quá tập trung và lo lắng về nguyên nhân của các dấu hiệu này. Bên cạnh đó, nếu như vẫn còn cảm thấy khó lòng thoát ra được nỗi ám ảnh này, bạn có thể thử những bài tập hít thở sâu đơn giản để bình tâm hơn.
Các triệu chứng do tác dụng phụ của thuốc có thể làm bạn nhầm tưởng với thai kỳ
2. Ở suốt trong nhà
Sau khi chuyển phôi, xu hướng muốn ở yên trong nhà là điều dễ hiểu vì mọi người thường muốn nghỉ ngơi để phôi không “rớt” ra ngoài và gia tăng khả năng có thai. Đối với những phụ nữ có tính cách hướng nội và tình hình dịch bệnh Covid như hiện nay, xu hướng này càng trở nên phổ biến hơn. Tuy nhiên, việc này chưa chắc đã mang lại hiệu quả mà ngược lại có thể còn làm bạn căng thẳng hơn. Do đó, bạn có thể cân nhắc đến việc ra ngoài cùng bạn bè để giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục.
Phụ nữ nên ra ngoài thư giãn nhẹ nhàng sau chuyển phôi
Hy vọng những chia sẻ trên có thể giúp các cặp vợ chồng quản lý cảm xúc hiệu quả, vượt qua giai đoạn sau chuyển phôi.
Bạn có chỉ định làm Thụ tinh ống nghiệm (IVF), bạn rất lo lắng về “chuyện gì sắp xảy ra”. Quy trình thụ tinh ống nghiệm chỉ gồm 6 bước đơn giản. Hãy cùng tìm hiểu ngay nhé!
Bước 1: Hoàn tất hồ sơ thụ tinh ống nghiệm
Làm xét nghiệm kiểm tra sức khỏe sinh sản cả hai vợ chồng:
Hoàn tất hồ sơ (kèm CCCD hay passport + kết hôn 2 vợ chồng).
Hẹn ngày 2 vòng kinh tái khám để bắt đầu kích thích buồng trứng.
Cả hai vợ chồng cần xét nghiệm kiểm tra sức khỏe sinh sản để hoàn tất hồ sơ IVF
Bước 2: Kích thích buồng trứng
Khách hàng đang có kinh ngày 2 được siêu âm kiểm tra + khám tiền mê.
Kết quả tiền mê bình thường sẽ được tiêm thuốc kích trứng.
Thời gian kích trứng từ 10-14 ngày khi trứng đã trưởng thành thì khách hàng được tiêm thuốc rụng trứng và hẹn ngày chọc hút trứng.
Tiêm kích trứng là một trong những bước quan trọng trong thụ tinh ống nghiệm
Bước 3: Chọc hút trứng
Giải thích và tư vấn cho khách hàng trước khi vào phòng thủ thuật.
Tiến hành gây tê + gây mê , thực hiện chọc hút trứng.
Qua siêu âm đầu dò bác sĩ sẽ dùng kim chọc hút lấy trứng ra từ buồng trứng của bạn.
Dịch nang trứng được đưa vào phòng Lab để tìm trứng.
Mô tả quá trình thực hiện chọc hút trứng
Bước 4: Thụ tinh và nuôi phôi
Trứng và tinh trùng tốt được chọn lựa và cho thụ tinh với nhau.
Quá trình thụ tinh hoàn tất sẽ thu được phôi ngày 2, 3, 5 hoặc 6.
Thực hiện thụ tinh cho trứng và tinh trùng trong ống nghiệm
Bước 5: Chuyển phôi
Phôi hữu dụng sẽ được chuyển phôi tươi hoặc trữ đông lại tuỳ theo sự phù hợp của nội mạc tử cung.
Khi chuyển phôi trữ, khách hàng sẽ chờ ra kinh kỳ tiếp theo để uống thuốc chuẩn bị niêm mạc tử cung trong khoảng 20 ngày rồi chuyển phôi trữ (phôi đông lạnh được rã đông).
Sau chuyển phôi hẹn khách hàng 14 ngày sau thử thai.
Mô tả quá trình thực hiện chuyển phôi
Bước 6: Làm lạnh và bảo quản phôi
Những phôi dư còn lại được làm lạnh và trữ lại trong thùng ni-tơ lỏng chờ chu kỳ chuyển phôi tiếp theo.
Kỹ thuật bảo quản lạnh đảm bảo 95% lượng phôi sử dụng được và có chất lượng như phôi tươi.
Với kỹ thuật trữ đông hiện nay, phôi có thể lưu trữ trong thời gian dài. Tuy nhiên, nên rã đông phôi và chuyển phôi càng sớm càng tốt. Vì tuổi người phụ nữ càng trẻ thì khả năng có thai càng cao và biến chứng thai kỳ càng giảm.
Làm lạnh và bảo quản phôi chờ chu kỳ chuyển phôi tiếp theo
Trên đây là 6 bước cụ thể trong quy trình thụ tinh ống nghiệm. Hãy giữ tinh thần thoải mái và tuân thủ theo hướng dẫn của các bác sĩ để thực hiện các bước trong quy trình này. Chúc các bạn thành công thật sớm.
Ngày 30 tháng 4 năm 1998, ngày chào đón sự ra đời của ba em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đầu tiên của nước ta. Đây là một trong những thành tựu xuất sắc của nền y học Việt Nam. Ba em bé được đặt tên là Phạm Tường Lan Thy, Lưu Tuyết Trân và Mai Quốc Bảo. Mỗi cái tên mang một số phận nhưng đều tựu chung ý nghĩa vô cùng đặc biệt, như một món quà vô giá gửi tặng những người mang cho các em cuộc sống diệu kỳ này.
Ba em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đầu tiên của nước ta
Hơn 16.300 em bé thụ tinh ống nghiệm tại bệnh viện
25 năm hình thành và phát triển, khoa Hiếm Muộn tự hào đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản:
1995: Thực hiện thành công bơm tinh trùng đầu tiên với tinh trùng lọc rửa.
1997: Thực hiện ca TTON đầu tiên.
1998: Ba em bé đầu tiên từ kỹ thuật TTON ra đời tại Việt Nam.
1999: Em bé đầu tiên từ kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) tại Việt Nam.
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI)
2000: Em bé đầu tiên từ Thụ tinh trong ống nghiệm xin trứng.
2002:
Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật MESA-ICSI (MESA là kỹ thuật lấy tinh trùng từ phẫu thuật mào tinh).
Sanh đôi đầu tiên sau kỹ thuật giảm thai.
2003:
Em bé đầu tiên từ phôi trữ.
Em bé đầu tiên từ kỹ thuật PESA-ICSI (PESA là một kỹ thuật chọc hút tinh trùng từ mào tinh).
Em bé thứ 1000 ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện Từ Dũ.
2004:
Em bé đầu tiên từ kỹ thuật TESE-ICSI (TESE là một kỹ thuật phẫu thuật trích tinh trùng từ tinh hoàn).
Các kỹ thuật PESA, MESA, TESE giúp các bệnh nhân vô tinh (không xuất tinh được theo ngã. thông thường) có cơ hội có con từ tinh trùng của chính mình.
Em bé đầu tiên từ trứng trữ lạnh và tinh trùng trữ lạnh.
2005: Em bé thứ 2000 ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện Từ Dũ.
2007: Em bé đầu tiên từ kỹ thuật trữ phôi nhanh.
Hình lấy phôi từ nito lỏng
2008:
Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật IVM (trưởng thành trứng non trong ống nghiệm).
Thực hiện kỹ thuật phôi thoát màng bằng laser (AH).
Kỹ thuật thoát màng phôi giúp tăng cơ hội làm tổ cho phôi trong các trường hợp khó như màng phôi dày, phụ nữ lớn tuổi.
2009:
Thực hiện nuôi phôi ngày 5.
Lợi ích của việc thực hiện nuôi phôi ngày 5 là làm tăng cơ hội có được một phôi tốt, giúp gia tăng sự làm tổ của phôi, tăng tỉ lệ thành công, giảm khả năng đa thai do chọn lựa số phôi chuyển ít hơn.
2010: Thiết lập quy trình PGD (chẩn đoán di truyền tiền làm tổ).
2011:
Thực hiện kỹ thuật IMSI (kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng cải tiến).
Đây là kỹ thuật cải tiến của ICSI, giúp chọn lựa tinh trùng kỹ lưỡng hơn để tiêm vào bào tương trứng.
Em bé TTON thứ 4000.
2013: Thực hiện nuôi cấy phôi ở các buồng ủ riêng biệt, đây là trang thiết bị nuôi cấy phôi hiện đại giúp ổn định sự phát triển, tăng chất lượng phôi góp phần tăng tỉ lệ có thai.
2015: Tổ chức quy trình xét duyệt và thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo nghị định chính phủ. Bệnh viện Từ Dũ là trong những đơn vị đầu tiên của Việt Nam được Bộ Y Tế cấp phép thực hiện kỹ thuật này. Đây là một kỹ thuật mang tính nhân văn cao, giúp cho những phụ nữ không may không thể mang thai bằng tử cung của mình vẫn có thể thực hiện được thiên chức làm mẹ.
2016: Thiết lập quy trình nghiên cứu trữ rã mô buồng trứng.
2017: Đạt chứng nhận quản lý chất lượng quốc tế về hỗ trợ sinh sản. Chứng chỉ này được thẩm định hằng năm và vẫn liên tục đạt yêu cầu từ năm 2017 đến nay.
Các bằng RTAC
2018:
PGD triển khai thực tế và ca chuyển phôi đầu tiên sau kỹ thuật PGD có thai.
Nguyên tắc của kỹ thuật PGT là các phôi sẽ được xét nghiệm để loại trừ khả năng có các bất thường về mặt di truyền trước khi cấy vào buồng tử cung và phát triển thành thai nhi. Với kỹ thuật này, các vợ chồng mang bệnh di truyền vẫn có thể cho ra đời các em bé khoẻ mạnh.
Tổng số em bé thụ tinh ống nghiệm (TTON) đã chào đời đến nay từ khoa Hiếm Muộn Bệnh viện Từ Dũ là hơn 16.300 bé.
Số lượt khám hiếm muộn trung bình mỗi năm là: 55.000 – 60.000 lượt khám/năm.
Tổng số ca bơm tinh trùng vào buồng tử cung IUI trong 10 năm gần đây là hơn 22.000 ca.
Tỉ lệ thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm có thể lên đến 45,7%.
Số chu kỳ TTON trong 10 năm gần đây là hơn 23.000 chu kỳ.
Các em bé TTON
Thụ tinh ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ
Bệnh viện Từ Dũ cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong đào tạo, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản. Từ năm 2002, bệnh viện đã bắt đầu tổ chức các khóa học về hỗ trợ sinh sản. Trải qua các năm thì ngày càng nhiều các khóa học được mở ra với mong muốn có thể đào tạo ra được một đội ngũ cán bộ y tế chuyên nghiệp trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. Để chúng ta cùng nhau chung tay thực hiện ước mơ của rất nhiều cặp vợ chồng đang mong con.
Trung bình mỗi năm sẽ có 2 lớp đào tạo về TTON, 02 lớp về IUI (bơm tinh trùng vào buồng tử cung) và 01 khóa chuyên về đào tạo chuyên gia phôi học.
Lớp học IVF
Bên cạnh đó, các Bác sĩ của khoa Hiếm Muộn Bệnh viện Từ Dũ cũng liên tục cập nhật và chia sẻ kinh nghiệm điều trị cùng các đồng nghiệp toàn thế giới, thông qua việc báo cáo và tham dự tại các hội thảo quốc tế, cũng như công bố các nghiên cứu của mình trên các chuyên sản uy tín quốc tế.
Các bác sĩ tham gia báo cáo khoa học
Với tôn chỉ lấy khách hàng làm trung tâm và không ngừng nâng cấp cải tiến trải nghiệm dịch vụ chăm sóc, điều trị. Chúng tôi có triển khai khu khám hẹn giờ với đặc trưng là tất cả dịch vụ đều tập trung xoay quanh khách hàng, giảm thiểu công sức thời gian di chuyển và chờ đợi cho khách hàng.
Khu VIP của bệnh viện
Gần đây nhất, vào năm 2023, chúng tôi đã triển khai khu Chăm sóc khách hàng TTON mới hoàn toàn, toạ lạc tại lầu 8 khu B, với hệ thống phòng tư vấn, phòng nghỉ sau thủ thuật khang trang và riêng tư nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
Câu hỏi mà rất nhiều mẹ sắp có bầu ước mơ đặt cho bác sĩ khi làm thụ tinh ống nghiệm chính là: “Bác ơi, em ước mơ làm thụ tinh ống nghiệm sẽ được song thai 1 trai 1 gái có được không ạ?”
Và bao giờ các bác cũng sẽ nói thật là có một bé một lần – thai đơn, sẽ dưỡng thai dễ hơn, cũng như sanh một bé thường sanh đủ tháng hơn so với sanh đôi. Hơn nữa, mẹ sẽ không chọn được bé trai hay gái đâu.
Vậy nhưng, quá trình đặt phôi cũng có khá nhiều mẹ đậu song thai. Mẹ H. là một trong số các bầu đôi đó. Quãng thời gian dưỡng thai của bạn ấy thật sự nhiều gian truân và lo lắng. Nghén nhiều, ra huyết, dọa sanh non…. đều là vấn đề thường thấy ở bầu đôi. Vậy mà mẹ H đã may mắn vượt qua tất cả và sanh mổ đủ tháng được một bé trai 2900g và một bé gái 2800g.
Hai em bé thụ tinh ống nghiệm sinh đôi một trai một gái của mẹ H.
Hai em bé thụ tinh ống nghiệm sinh đôi một trai một gái của mẹ H.
Hai em bé thụ tinh ống nghiệm sinh đôi một trai một gái của mẹ H.
Hiện giờ hai bé con đã khôn lớn hơn từng ngày. Đặc biệt, hai khuôn mặt lúc nào cũng cười tươi rói như để cảm ơn những vất vả của mẹ H. đã từng phải trải qua để đậu thai và để sinh ra hai con.
Có lẽ câu nói “Hãy cứ ước mơ đi, không ai đánh thuế giấc mơ của bạn đâu!” thực sự đúng với chị H. Hơn 5 năm tìm con đầy những vất vả cũng như tốn kém và buồn phiền không ít. Nhưng có lẽ chưa lúc nào chị H. từ bỏ niềm tin là mình sẽ có con. Chị vẫn kiên nhẫn theo đuổi việc tìm con năm này qua năm khác. Có lúc mệt mỏi nản lòng, chị tự cho mình tạm nghỉ 1-2 tháng rồi lại tiếp tục hành trình tìm con.
Có lẽ tất cả khó khăn chị đã kiên tâm vượt qua chỉ là những thử thách để sau đó chị nhận được một món quà thật to vượt ngoài mong đợi. 5 lần bơm IUI và 3 lần đặt phôi không thành công. Ở lần sau cùng, chị H. chỉ còn 2 phôi cuối cùng mà lại chỉ là phôi ngày 3 loại 2, thế mà chị đã đậu song thai. Và sau đó, hai bé gái song sinh đã chào đời khỏe mạnh: Nguyên An và Nguyên Tâm.
Hai bé sinh đôi Nguyên An và Nguyên Tâm
Hai bé sinh đôi Nguyên An và Nguyên Tâm
Hai bé sinh đôi Nguyên An và Nguyên Tâm
Giờ đây gia đình nhỏ tràn ngập tiếng cười và trong ánh mắt chị H. lúc nào cũng lấp lánh niềm vui. Chúc mừng ước mơ nhân đôi và sự tin tưởng của chị H. dành cho khoa Hiếm Muộn – Bệnh viện Từ Dũ.
Năm 2023, khi có dịp rảnh rỗi đọc lại nhật ký của mình, chị Ch. bỗng cảm thấy ngập tràn yêu thương và chị nở một nụ cười hạnh phúc. Thời gian trôi nhanh quá, 7 năm trước, khi còn là một cô gái trẻ vui tươi mơ mộng, chị đã tình cờ nhìn thấy tấm hình một bé gái xinh như thiên thần: mái tóc nâu xoăn, đôi mắt to tròn và nụ cười tỏa nắng. Khi đó, chị đã lưu hình cô bé trên mạng chưa quen biết ấy vào nhật ký với ước mơ sau này mình sẽ có một cô con gái giống như vậy.
Hình ảnh bé gái mà chị Ch. đã lưu lại trong điện thoại từ rất lâu
Giờ đây, khi con gái yêu tròn 2 tuổi, chị bất chợt xem lại nhật ký và phát hiện ra một điều vô cùng tuyệt diệu: cô bé khi xưa và con gái chị hiện giờ giống nhau quá. Cả một chặng đường dài chị đã phải vượt qua. Chị Ch. đã sinh bé C. ngay trong đỉnh dịch Covid, khi tất cả người dân cách ly trong nhà, mọi thứ đều khó khăn hơn bình thường gấp bội.
Hình ảnh con gái của chị Ch.
Hình ảnh con gái của chị Ch.
Chị đã tin tưởng chọn đến Bệnh viện Từ Dũ để sanh vì đã gắn bó với nơi này từ khi còn điều trị thụ tinh ống nghiệm tại khoa Hiếm Muộn – Bệnh viện Từ Dũ. Quá trình điều trị cũng không ít gian nan và dễ nản lòng vì nhiều lần chuyển phôi chưa thành công. Nhưng tất cả những chuyện vất vả xưa ấy đã qua rồi, giờ đây anh xã người Pháp của chị Ch. mỗi khi nhìn thấy cô con gái yêu của hai vợ chồng chơi đùa, anh đều mãn nguyện thốt lên cùng bạn bè: This is a magic of Vietnamese doctor.
Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ là một trong những cơ sở đào tạo lớn nhất về lĩnh vực Hiếm muộn không những cho khu vực phía Nam, mà còn cho toàn quốc. Với số lượng bệnh nhân khám Hiếm muộn lên đến hàng trăm ngàn và hàng chục ngàn chu kỳ thụ tinh ống nghiệm hàng năm cùng đội ngũ giảng viên Bác sĩ, chuyên viên Lab giàu kinh nghiệm về chuyên môn cũng như công tác giảng dạy, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí giảng dạy do Bộ Y tế yêu cầu.
Hầu hết các học viên tốt nghiệp các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh Viện Từ Dũ đều có thể làm việc độc lập trong lĩnh vực hiếm muộn tại nơi công tác và được phản hồi khá tốt.
Cho đến nay khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ đã đào tạo:
Lớp IVF: tổ chức được 20 khóa học: tổng cộng có 180 học viên tốt nghiệp.
Lớp chuyên viên Lab-IVF: 8 khóa, 67 học viên đã tốt nghiệp.
Lớp bơm tinh trùng vào buồng tử cung: 40 khóa: 543 học viên đã tốt nghiệp.
Lớp Lab nam khoa, lọc rửa tinh trùng: 40 khóa, 205 học viên đã tốt nghiệp.
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Hình ảnh thông tin về các lớp học Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ
Chứng chỉ Đào tạo liên tục
Thi tốt nghiệp lớp IVF
Bế giảng lớp Lab-IVF
Đặc biệt, khoa đã tổ chức thành công đào tạo cấp chứng chỉ cho lớp đào tạo 20 ca lâm sàng IVF cho Bác sĩ, điều dưỡng, chuyên viên lab theo tiêu chí cấp phép thành lập đơn vị hiếm muộn của Bộ Y Tế; và các học viên đã có thể làm việc độc lập ngay khi đơn vị hiếm muộn của bệnh viện mới thành lập.
RTAC là viết tắt của cụm từ Reproductive Technology Accreditation Committee. Đây là cơ quan chuyên môn về quản lý chất lượng, được thành lập bởi Ban lãnh đạo của Hiệp hội sinh sản Úc và chịu sự quản lý trực tiếp từ Hội. Cơ quan này chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn trong các hoạt động liên quan đến Hỗ trợ sinh sản thông qua việc kiểm sát các Quy tắc thực hành (Code of practice) được lập ra bởi cơ quan này. Các bệnh viện hoặc trung tâm Hỗ trợ sinh sản sau khi kiểm sát, sẽ được cấp chức chỉ của Úc hoặc chứng chỉ quốc tế.
Lịch sử các Quy tắc thực hành và mục đích của chúng
Bộ tiêu chuẩn ban đầu biên soạn bởi Hiệp hội sinh sản Úc có tên là “Hướng dẫn dành cho các trung tâm Hỗ trợ sinh sản tại Úc và New Zealand”, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1986. Đến năm 1987, RTAC được thành lập và bổ sung thêm các ghi chú để giải thích cho các tiêu chuẩn ban đầu do Hội soạn thảo. Bộ quy tắc này sau đó được chỉnh sửa vào các năm 1992, 1997, 2001 và 2005. Nó được viết lại hoàn toàn vào năm 2008 và được chỉnh sửa sau đó vào các năm 2010, 2014, 2017 và 2021. Một chi tiết quan trọng là phiên bản quốc tế của Bộ quy tắc này lần đầu được giới thiệu vào năm 2015 và có phiên bản thứ hai vào năm 2018.
Mục đích của Quy tắc thực hành RTAC:
Thúc đẩy sự cải tiến liên tục về chất lượng chăm sóc cho những bệnh nhân sử dụng dịch vụ hỗ trợ sinh sản.
Cung cấp bộ khung đặt ra các tiêu chí cho quy trình kiểm sát, để từ đó có thể cấp chứng nhận cho các trung tâm Hỗ trợ sinh sản.
Đảm bảo việc kiểm sát được thực hiện một cách độc lập, không thù địch và mang tính xây dựng.
Khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Từ Dũ đã đạt chứng nhận RTAC như thế nào?
Trên tinh thần cầu tiến và muốn cải thiện chất lượng phục vụ cho bệnh nhân, tập thể nhân viên khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ đã quyết tâm nỗ lực hết sức mình để đạt được chứng nhận RTAC. Vào năm 2018, kế hoạch được lập và khởi động bởi bác sĩ trưởng khoa Lê Thị Minh Châu; một nhóm Quản lý chất lượng của khoa bao gồm các bác sĩ, nữ hộ sinh và các chuyên viên phôi học lâm sàng có ngoại ngữ tốt được thành lập và chịu trách nhiệm soạn thảo lại bộ quy tắc phù hợp với luật pháp và điều kiện làm việc ở Việt Nam.
Trong vòng một năm tiếp theo, sau các buổi làm việc với các chuyên gia Quản lý chất lượng từ Úc cũng như trong nước, Bộ quy tắc quản lý chất lượng riêng của khoa HIếm muộn bệnh viện Từ Dũ dần hoàn thiện.
Và cuối cùng vào năm 2019, sau rất nhiều nỗ lực của khoa Hiếm muộn, cùng với sự hỗ trợ hết mình từ Ban giám đốc và các khoa phòng liên quan, tập thể khoa đã hoàn thành xuất sắc buổi thẩm định của một tổ chức kiểm toán quốc tế.
“Quả ngọt nhất là quả được hái từ cây nỗ lực”, khoa Hiếm muộn đã chính thức được nhận chứng nhận Quản lý chất lượng RTAC vào tháng 10 năm 2019, tự hào là Trung tâm hỗ trợ sinh sản đạt chuẩn quốc tế.
Và kể từ đó cho đến nay, “đến hẹn lại lên”, mỗi năm khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ đều trải qua một đợt thẩm định quốc tế để tiếp tục giữ vững chất lượng trong từng hoạt động hỗ trợ sinh sản, với mong muốn mang lại những gì tốt đẹp nhất cho người bệnh.
Lập gia đình, có thai, sinh con là ước mơ của tất cả các cặp vợ chồng. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng có thể thực hiện được ước mơ bình dị này. Những người phụ nữ, những người vợ, sau khi lập gia đình vì nhiều lý do khách quan không thể có thai. Một trong những lý do đáng ngại nhất là hiện tượng suy giảm chức năng buồng trứng, điều này làm cho khả năng làm mẹ của họ không thể thực hiện được.
Để giải quyết tình trạng này, xin trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) với tinh trùng của người chồng của cặp vợ chồng hiếm muộn là giải pháp tối ưu nhất. Sau đó, phôi có được sẽ được cấy vào buồng tử cung của người vợ. Nhờ kỹ thuật này, người vợ bị hiếm muộn do nguyên nhân buồng trứng suy yếu vẫn có thể mang thai và sinh đẻ bình thường. Kỹ thuật TTTON với trứng hiến tặng thành công trên thế giới từ năm 1984. Kỹ thuật này hiện nay được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các trung tâm TTTON trên thế giới.
Vì sao phụ nữ suy giảm chức năng buồng trứng cần xin trứng?
Hiếm muộn xảy ra ở khoảng 10-12% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản. Có nhiều nguyên nhân gây hiếm muộn, trong đó, suy giảm chức năng của buồng trứng đóng một vai trò quan trọng. Chức năng sinh sản của buồng trứng bắt đầu ở người phụ nữ từ lúc dậy thì, khi chu kỳ kinh nguyệt bắt đầu xuất hiện và bắt đầu giảm dần từ 30 tuổi trở đi, đặc biệt là sau 35 tuổi, buồng trứng suy giảm rất nhanh. Sau 40 tuổi, gần 1/3 phụ nữ bình thường không còn có khả năng có thai tự nhiên, mặc dù tuổi mãn kinh thường trong khoảng từ 45 đến 50 tuổi.
Thống kê cho thấy rằng, có 1% phụ nữ do bẩm sinh hay do quá trình tiêu hủy tế bào trứng diễn ra quá nhanh làm cho nguồn dự trữ buồng trứng bị suy giảm nghiêm trọng. Và hậu quả là “hết trứng” dù chưa đến 40 tuổi; tình trạng này gọi là “suy buồng trứng sớm”. Ngoài ra, do bệnh lý ở buồng trứng, hay phẫu thuật trên buồng trứng làm buồng trứng bị “suy sụp” nhanh hơn bình thường nên cũng bị “hết trứng” sớm hơn.
Vấn đề dự trữ buồng trứng không chỉ liên quan đến khả năng thụ thai của người phụ nữ, mà còn liên quan đến vấn đề sảy thai. Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng sẩy thai xảy ra ở những người có dự trữ buồng trứng giảm đặc biệt cao hơn so với những người phụ nữ có dự trữ buồng trứng bình thường. Các nhà nghiên cứu cho rằng điều này liên quan đến sự suy giảm chất lượng nang noãn ở những phụ nữ có dự trữ buồng trứng kém.
Người phụ nữ sinh ra luôn có một số lượng nang noãn nhất định trong suốt cuộc đời. Số lượng các nang noãn đạt đến đỉnh điểm vào khoảng tháng thứ 5 của thai kỳ, khoảng 7 triệu, sau đó giảm đi nhanh chóng còn 2 triệu lúc sinh và 300000 nang noãn khi dậy thì. Trong số các nang noãn này chỉ có khoảng 400-500 nang có hiện tượng phóng noãn, nghĩa là có khả năng thụ thai, các nang còn lại tiếp tục giảm dần và hết khi mãn kinh.
Mỗi chu kỳ tự nhiên chỉ có một đến hai nang noãn vượt trội và phóng noãn. Để điều này xảy ra, cần huy động một quần thể từ 400-500 nang noãn nguyên thủy được chiêu mộ từ 3 chu kỳ trước. Quần thể này giảm dần do hiện tượng thoái hóa dưới ảnh hưởng của các nội tiết hướng sinh dục, cuối cùng chỉ còn một đến hai nang vượt trội vài ngày trước khi có hiện tượng phóng noãn.
Xin trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm
Cơ thể con người và khả năng tiếp nhận trứng hiến tặng
Với sự thành công của TTTON vào năm 1978, người ta thấy rằng hiện tượng thụ tinh giữa trứng và tinh trùng người có thể diễn ra bên ngoài cơ thể.
Bằng các tiến bộ vượt bậc của Y học, các nhà khoa học nhận thấy tử cung của người phụ nữ vẫn còn khả năng mang thai một thời gian khá lâu, hơn 10 năm sau khi buồng trứng ngưng hoạt động (sau khi mãn kinh). Thành công này giúp những người phụ nữ mà buồng trứng suy yếu hoặc không còn hoạt động, vẫn có thể mang thai, sinh đẻ, thực hiện thiên chức thiêng liêng của phụ nữ.
Thụ tinh trong ống nghiệm với trứng người cho thành công đầu tiên trên thế giới năm 1984, người ta thấy rằng một người phụ nữ hoàn toàn có thể mang thai và sinh con khỏe mạnh với phôi tạo thành từ trứng của người phụ nữ khác. Thậm chí khoa học còn có thể làm hơn như thế nữa khi vào năm 1997, một phụ nữ 63 tuổi, đã mãn kinh, vẫn có thể mang thai và sinh con khỏe mạnh với trứng hiến tặng được công bố trên thế giới.
Tại Việt Nam, trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm – xin trứng đầu tiên thành công được thực hiện tại Bệnh Viện Từ Dũ năm 1999. Vì nhiều lý do khách quan, số bệnh nhân hiếm muộn lớn tuổi, buồng trứng suy giảm chức năng ngày càng nhiều. Do đó, nhu cầu áp dụng thụ tinh trong ống nghiệm – xin trứng rất lớn.
Ban đầu, xin trứng, hay hiến trứng được áp dụng cho những trường hợp suy buồng trứng sớm. Sau đó, kỹ thuật này được mở rộng cho những trường hợp khác như: bất thường nhiễm sắc thể người mẹ, đáp ứng buồng trứng kém với kích thích buồng trứng, IVF thất bại nhiều lần, trứng thụ tinh bất thường khi làm thụ tinh trong ống nghiệm…
Hiến trứng – mang lại mầm sống và niềm hạnh phúc
Mỗi tháng dù muốn hay không vẫn có hàng trăm, hàng ngàn thế bào trứng từ 2 buồng trứng của người phụ nữ tự tiêu hủy do quy luật sinh học. Trong khi đó, chỉ cần một số rất nhỏ trong số đó, đã có thể góp phần tạo nên một mầm sống, một cuộc sống mới, mang lại niềm hạnh phúc, hy vọng và mục đích sống của một người phụ nữ; hơn nữa, đó có thể là hạnh phúc của cả một gia đình, một dòng tộc. Với mục đích đó, hiến tặng trứng là một nghĩa cử mang tính nhân bản sâu sắc.
Hiến tặng trứng mang lại nhiều ý nghĩa cao cả
Tài liệu tham khảo:
D.Navot, N.Laufer, J.Kopolovic et al. Artificial induced endometrialcycles and establishment of pregnancies in the absence of ovaries. N.Engl J Meb; 1984, 314:806-811.
J.M.Anasti. Premature ovarian failure: an update. Fertil. Steril;1998,70:1-15.
R.J.Pailson, M.H.Thomton, M.M.Francis et al. successful pregnancy in a 63-year-old woman. Fertil Steril; 1997,67:949-951.
Leon Speroff, Robert H. Glass, Nathan G. KaseThe ovary: Embryology and development, Handbook for clinical gynecologic endocrinology and infertility, Lippincott Williams and Wilkins, 2002, p54-64
V.T.N.Lan, H.M.Tường, N.T.N. Phượng, P.V.Thanh. Trường hợp cho trứng thành công đầu tiên tại Việt Nam. Thời sự Y dược học; 1999, 5:254-256